Thị xã Sầm Sơn cách thành phố Thanh Hóa 16km về phía Đông với diện tích tự nhiên xấp xỉ 18km2.
Bãi
biển Sầm Sơn có chiều dài gần 9km; trong đó có 5km có thể là bãi tắm
hiện đang khai thác trên 3km. Bãi cát mịn, rộng, thoải và sạch, nước
biển trong, nồng độ muối trong nước 30%, ngoài ra còn có nhiều khóang
chất rất tốt cho con người.
Khí
hậu ở Sầm Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, do là vùng ven biển nên
mùa hè mát, mùa đông ấm. Nhiệt độ trung bình trong năm là 23-240C, mùa
hè là từ 25-290C; mùa Đông 18-200C.
Với điều kiện tự nhiên như vậy, Sầm Sơn có tiềm năng rất lớn cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng...
Sầm
Sơn là khu du lịch nổi tiếng của Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX.
Không chỉ có bãi biển đẹp, Sầm Sơn còn có những di tích, danh thắng gắn
liền với các truyền thuyết và huyền thoại, làm nên một Sầm Sơn độc đáo
và riêng biệt.
Đến
Sầm Sơn cái thú đầu tiên là tắm biển. Những đợt sóng biển xô bờ êm nhẹ,
con người có thể thả mình trên sóng mà tận hưởng cái mát lạnh của nước,
cái bồng bềnh của sóng và cái mênh mông xanh ngắt của biển trời, làm
nhanh chóng quên đi những vất vả đời thường. Không phải ngẫu nhiên khi
xâm lược nước ta, người Pháp đã chọn đây làm nơi nghỉ mát lý tưởng.
Trong con mắt của họ, Sầm Sơn là một kho báu chưa được khai thác. Hơn
trăm năm trước đã có những công trình nghiên cứu. Nhưng phải đợi đến
ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối và bước vào
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, triển vọng về một đô thị du lịch
mới được mở rộng cửa.
1. Đền Độc Cước (di tích đã được Bộ VH-TT xếp hạng năm 1962).
Sau những giây phút bồng bềnh với sóng, du khách có thể thả hồn mình dạo bước trên núi Trường Lệ, nơi
có đền thờ Độc Cước. Toàn cảnh đền như một bức tranh sống động, tồn tại từ bao đời, được coi là 'Tối linh từ'.
Chuyện
kể rằng xưa lắm có một bọn quỷ mũi đỏ đến vùng biển này làm hại dân
lành. Hồi bấy giờ có một chú bé mồ côi cha vừa chui ra khỏi bụng mẹ đã
lớn nhanh như thổi. 'Hạt lúa lớn bằng người ôm, trái cà con nặng một
người gánh' mà vẫn không đủ nuôi chú bé. Khi chú bé trở thành người
khổng lồ cũng là lúc bọn quỷ dữ hại dân lành hoành hành ghê gớm. Chàng
khổng lồ đánh thắng chúng ngoài biển, chúng tràn vào đất liền cướp phá,
nếu chàng ở trong đất liền thì chúng lại phá ở ngoài khơi còn nếu chàng
ở ngoài khơi thì chúng lại phá ở đất liền. Chàng nghĩ cách lấy búa tự
xẻ đôi thân mình, một nửa thân và một chân đứng ngự trên đỉnh Sầm Sơn,
một nửa thân và một chân theo bè mảng ra khơi hộ vệ dân chài. Hôm ấy
bọn quỷ lẫn vào bờ nhìn lên thấy chàng khổng lồ vẫn sừng sững đứng đó,
ra biển lại cũng thấy chàng hiên ngang trên mảng y như trên đỉnh núi.
Từ đó chúng xiêu bạt đi nơi khác kiếm ăn, không dám bén mảng đến vùng
biển này nữa. Cái tên thần Độc Cước, tức thần 'Một chân' bắt nguồn từ
tích này.
Theo
đạo sắc phong còn giữ được, vào năm Cảnh Hưng thứ 14 (1783), thì thần
Độc Cước tên là Chu Văn Khoan, có tài đức, giúp các đời vua dẹp yên
giặc giã, giữ gìn bờ cõi. Ngài hiệu là Đại pháp sư, có 7 phép màu để
trị ma quỷ gian ác… và được vua phong mấy chữ: 'Độc Cước sơn triều'.
Đền
đã qua nhiều lần trùng tu. Năm trùng tu xưa nhất được giữ ở thượng
lương gian tiền đường ghi niên hiệu Chính Hoà (1675 - 1705). Còn tiền
đường mới hiện tại có niên đại Tân Mão (1891), với dòng chữ: 'Hoàng
triều Thành Thái tam tam niên tuế thứ Tân Mão hạ huyệt trọng xuân lưu
nhật quang thời tân tạo tiền đường thụ đại cát'. Tạm dịch: 'Đời vua
Thành Thái thứ 3, năm Tân Mão, mùa xuân tháng Ba ngày tốt, làm ngôi
tiền đường'. Qua hai cuộc kháng chiến, từ 1945 đến 1974, bom đạn liên
miên, nhưng đền Độc Cước hầu như vẫn nguyên vẹn, với những chiếc cột
bằng gỗ lim, gỗ chò và một số đồ thờ, bia, tượng, có phong cách nghệ
thuật Việt Nam thế kỷ XVIII, XIX.
2. Đền Tô Hiến Thành
Đền
được xây dựng ở xóm Tài, làng Núi, nay thuộc phường Trường Sơn, thị xã
Sầm Sơn, cách Đền Độc Cước 300m. Đền thờ Tô Hiến Thành, một đại thần ở
thế kỉ thứ XII, dưới triều nhà Lý. Ông là một viên quan, được lịch sử
ca ngợi rất thanh liêm, chính trực. Vào năm
1161, ông được vua Lý Thánh Tôn cử cầm quân vào dẹp loạn ở vùng ven
biển Thanh Hoá, nhờ thế mà nhân dân địa phương mới được an cư lạc
nghiệp. Vì vậy nhiều nơi ở Thanh Hoá, nhân dân đã lập đền thờ để tưởng
nhớ công đức của ông.
Trước
kia theo kí ức của nhân dân địa phương thì ngôi đền này khá đẹp và có
nhiều cây cổ thụ. Nhưng rồi đền đã bị phá, cây cối bị đốn hết, vài năm
trở lại đây đền mới được dựng lại. Hiện nay, đền chỉ còn lại bộ kiệu từ
xưa, đang được cất giữ trong đền Độc Cước và một cây bàng ở phía trái
đền, có tuổi thọ hơn 70 năm
Hàng năm cứ đến ngày 16/2 âm lịch, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội thắp hương ở đền.
3. Đền Hoàng Minh Tự
Cách
đền thờ Tô Hiến Thành khoảng 300m, theo đường chim bay, đền thờ Hoàng
Minh Tự nằm giữa khu nhà ở của cư dân phường Trường Sơn. Trước kia, đền
được dựng trên một khu đất khá rộng, xung quanh nhiều cây cổ thụ mọc um
tùm, người ôm không xuể. Nhưng cách đây mấy chục năm, đền đã bị phá,
nay vừa được trùng tu lại. Hiện vật cũ, còn nếp nhà có từ thời Bảo Đại
tam niên (1929), hai bức tượng võ quan mặc triều phục, tay cầm gươm,
chiếc kiệu song loan vào loại lớn, đang đặt ở đền Độc Cước và hai đạo
sắc thời Thành Thái thứ 13 (1902) và Khải Định thứ 6 (1922).
Sự
tích nhân vật Hoàng Minh Tự hiện được biết, có nội dung khác biệt nhau.
Có tích cho rằng, Hoàng Minh Tự vốn quê ở xã Quảng Vinh, huyện Quảng
Xương bây giờ. Ông nhà nghèo đến ở với một gia chủ nơi đây. Gia chủ
nuôi thầy trong nhà để dạy con học. Hoàng Minh Tự rất sáng dạ, nên nghe
lỏm bài thầy giảng đều nhớ và hiểu hết. Về sau ông đi thi và đỗ Hoàng
Giáp. Khi vinh quy bái tổ, trở về làng này, thì chức sắc địa phương đón
tiếp nhạt nhẽo, coi thường ông là kẻ tôi tớ. Ông bèn ném chiếc gươm đeo
bên hông xuống con sông gần đấy mà thề rằng: 'Nếu gươm nổi, thì ngươì
làng này từ rày về sau mới có kẻ thi cử, đỗ đạt'. Chiếc gươm chìm, nên
từ đó làng Núi này không có ai học hành thi đỗ ra làm quan cả. Khi nghỉ
hưu, Hoàng Minh Tự đã về sống ẩn dật ở nơi này cho đến lúc mất. Thi hài
ông được mối đùn lên thành nấm mồ và rất linh thiêng, nên nhân dân địa
phương đã lập đền thờ.
Nhưng
có tích lại nói rằng Hoàng Minh Tự, vốn là một viên quan của nhà Tống,
bên Trung Quốc, tên thực là Hoàng Hiển. Khi nhà Tống bị quân Nguyên -
Mông tiêu diệt, thì Hoàng Hiền cùng với một số gia thuộc chạy sang Việt
Nam và xin được ở lại làm quân tình nguyện đánh giặc Nguyên - Mông. Ông
đã lập nhiều chiến công, nên được vua Trần phong 'Minh tự'. Vì thế nhân
dân quen gọi ông là Hoàng Minh Tự. Khi tuổi già, ông về ở ẩn ở vùng Kẻ
Trường, nay là xã Quảng Vinh, huyện Quảng Xương. Nhân dân khắp vùng này
ở xã Quảng Vinh và Sầm Sơn đều lập đền thờ ông sau khi ông mất. Hàng
năm cứ đến ngày 26 tháng hai âm lịch, các đền này đều có tổ chức lễ
tưởng niệm.
4. Chùa Khải Minh
Ngôi
chùa này thuộc địa phận phường Bắc Sơn, thị xã Sầm Sơn, cách đền Hoàng
Minh Tự khoảng 1km. Theo nhân dân địa phương cho biết, thì chùa này
trước kia được xây dựng trên diện tích hàng chục ha. Chùa có rất nhiều
tượng phật đẹp và xung quanh các cây cổ thụ mọc kín, có cây hàng hai
người ôm mới xuể. Mấy chục năm trước cầy đã bị phá. Năm 1994, nhân dân
địa phương mới xây dựng lại, kiến trúc khá đẹp, toàn bằng gỗ, nhưng quy
mô nhỏ hơn trước nhiều.
Trong
chùa hiện có hàng chục bức tượng phật, trong đó có 11 pho tượng cũ làm
từ trước kia, nhân dân còn cất giữ được. Một chiếc chuông đồng, nặng
khoảng trên chục cân, có khắc 8 chữ Hán: 'Quý tỵ trọng xuân' (Tháng Hai
năm Quý tỵ) và 'Đông Khê ấp chung' (Chuông ấp Đông Khê).
Đặc
biệt, trước cửa chùa có hai chiếc khánh đá vào loại lớn. Mỗi chiếc có
chiều dài 3m, cao 1m dầy gần 0,2m, có lỗ xâu chốt, đặt trên 2 cột trụ
đá. Trên chiếc khánh còn thấy khắc mấy dòng chữ Hán: 'Tự Đức nhị thấp
nhất niên, ngũ nguyệt sơ cửu nhật, bản thôn hương lão hưng tạo, thành
tiền thập lục bát quan'. Như vậy chiếc khánh đá được làm từ năm 1868,
ngày 9 tháng Năm âm lịch, hết 68 quan tiền.
5. Đền Cô Tiên (di tích được Bộ VH-TT xếp hạng năm 1962)
Đền
được dựng ở phía nam mỏm núi Trường Lệ, một vị trí rất thoáng đãng.
Đứng ở đền, có thể nhìn thấy đảo Hòn Mê, cả vùng biển Nghi Sơn, huyện
Tĩnh Gia, bãi biển các xã Quảng Vinh, Quảng Hùng, huyện Quảng Xương.
Tương
truyền thuở xưa, ở làng núi này có đôi trai gái yêu nhau tha thiết.
Chẳng may cô gái bị bệnh hủi, nên dân làng không cho ở trong làng. Nàng
phải ra hang núi ở và chàng cũng bỏ làng ra theo, rồi họ trở thành vợ
chồng. Họ đùm bọc nhau, ngày ngày bắt cá ở biển, đào củ trên núi để
sống. Một lần tình cờ nàng hái một loại lá cây ăn và lành bệnh. Từ đó
nàng làm nghề thuốc để cứu nhân độ thế. Khi mất, nàng được nhân dân sở
tại lập đền thờ, nên gọi là đền Cô Tiên. Nhưng theo cụ Phan Viết Dân,
69 tuổi, người trông coi đền hiện nay cho biết, thì đền này là nơi thờ
vọng thần Độc Cước. Còn cái tên 'Cô Tiên' chỉ mới xuất hiện mấy chục
năm trở lại đây mà thôi.
Đền
không biết được khởi dựng từ thuở nào, nhưng niên đại cũ nhất còn ghi
lại là năm Thành Thái nhị niên (1890). Trong đền hiện còn những câu đối
bằng chữ Hán. Năm 1960, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã thăm đền Cô Tiên và đã
gặp gỡ, trò chuyện với một số dân chài làng Núi.
6. Hòn Trống Mái
Trên đường từ đền Độc Cước đến đền Cô Tiên, du khách sẽ gặp hai hòn đá lớn, chồng lên trên một bệ đá
chênh
vênh, lấy tay đẩy còn thấy rung rinh, ấy thế mà chúng đã đứng trụ vững
chãi với mưa, gió, không biết tự thửa nào. Người đời hình dung đây là
biểu tượng của một cặp uyên ương chung thuỷ và đặt tên là hòn Trống Mái.
Theo
truyền thuyết dân gian, thì thuở xa xưa, bờ biển Sầm Sơn ăn vào tận nơi
này. Một lần có chàng trai đánh cá làng Trường Lệ, thấy một cô gái bị
sóng biển xô vào bờ. Chàng trai đã cứu sống nàng, rồi hai người yêu
nhau, nguyện kết làm vợ chồng.
Nhưng
cô gái vốn là công chúa người nhà trời, vì mắc tội nên bị Ngọc Hoàng
đày xuống hạ giới. Hết hạn đày, Ngọc Hoàng sai chư thần xuống đưa công
chúa về trời, nhưng nàng quyết ở lại với chồng dưới trần thế. Ngọc
Hoàng tức giận, sai Thiên Lôi xuống hỏi tội. Khi Thiên Lôi tới thì thấy
vợ chồng công chúa và tất cả đồ đạc, gia súc trong gia đình đều đã biến
thành đá. Ngày nay, hòn đá lớn chính là người chồng, hòn đá nhỏ hơn
chính là người vợ. Xung quanh hòn trống mái còn thấy nhiều hòn đá nhỏ
khác, hình thù giống đàn lợn, con mèo, chiếc mâm, bếp núc… Đó chính là
gia đình của đôi vợ chồng có một tình yêu hết sức chung thuỷ đã biến
thành đá, để được vĩnh viễn bên nhau.

7. Đền Bà Triều: Sở VH – TT Thanh Hóa công nhận là di tích lịch sử năm 1993
Được
người xưa dựng trên đất Làng Trấp, nay thuộc thôn Công Vinh xã Quảng
Cư. Ngôi Đền thờ Bà Triều, tổ sư của nghề dệt săm súc, một phương tiện
đánh bắt hải sản của ngư dân Sầm Sơn. Đây là một làng nghề truyền thống
đang được khôi phục và phát triển tại thôn Tiến Lợi, nơi Bà đã truyền
nghề cho con cháu từ xa xưa. Lễ hội truyền thống vào ngày 10 tháng 2 Âm
lịch, với các hoạt động văn hóa cùng các lễ nghi như: Rước kiệu, tế lễ…
Đền Bà Triều vừa mới được nhân dân thị xã Sầm Sơn trùng tu, tôn tạo năm
2004.